Saturday, July 4, 2020
“Vì sao Bạch Ngọc Chiến, con rể ông Phạm Quang Nghị xin nghỉ việc” (tham khảo)
Nguyễn Hoàng Việt
Tác giả gửi tới Dân Luận
Tác giả “Lê Văn Đoành” có bài viết “Vì sao Bạch Ngọc Chiến, con rể ông Phạm Quang Nghị xin nghỉ việc”
Bạch Ngọc Chiến, sinh ngày 20/10/1971, tại Mộ Lao, Hà Đông, Hà Nội. Chiến tốt nghiệp Trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội năm 1994, được tuyển dụng vào Bộ Ngoại giao năm 1997.
Bạch Ngọc Chiến là cái tên được chú ý, bởi ông ta là chồng của Phạm Thị Phương Bình, con gái lớn của ông Phạm Quang Nghị, cựu Uỷ viên Bộ Chính trị khoá X và XI, cựu Bí thư Thành uỷ Hà Nội, từng được xem là ứng viên sáng giá cho vị trí Tổng Bí thư khoá XII.
Giai đoạn 2002-2005, Bạch Ngọc Chiến là tùy viên báo chí của Đại sứ quán Việt Nam tại Hoa Kỳ. Năm 2007, Chiến chuyển sang đài Truyền hình Việt Nam và giữ chức vụ Trưởng Ban Truyền hình đối ngoại.
Tháng 3/2014, “hạt giống đỏ” Bạch Ngọc Chiến là một trong 44 cán bộ được Ban chấp hành Trung ương Đảng luân chuyển công tác về địa phương để quy hoạch lên cao hơn. Ông Chiến được chỉ định tham gia BCH tỉnh uỷ Nam Định khoá 2010-2015 và giữ Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Nam Định nhiệm kỳ 2011-2016.
Năm 2015, tại đại hội đảng bộ tỉnh Nam Định lần thứ XIX, nhiệm kỳ 2015-2020, Bạch Ngọc Chiến chỉ dừng chân ở BCH tỉnh uỷ, không lọt vào được Ban Thường vụ (BTV) tỉnh uỷ, đồng nghĩa với “giấc mơ” vào Ủy viên Trung ương dự khuyết cũng tan thành mây khói.
Tháng 7/2019, Bạch Ngọc Chiến, Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nam Định được điều động, chỉ định tham gia làm ủy viên Đảng đoàn Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam, giữ chức vụ Phó Chủ tịch Liên hiệp Các tổ chức Hữu nghị Việt Nam (VUFO).
Từ chỗ nằm trong đề án “Cán bộ cấp chiến lược”, Bạch Ngọc Chiến đã bị loại ra, không có tên trong danh sách quy hoạch BCH Trung ương khoá XIII. Đồng nghĩa với việc, hoạn lộ của Bạch Ngọc Chiến đã dừng lại.
Năm xưa, dư luận xầm xì vụ luân chuyển Bạch Ngọc Chiến về Nam Định, Ủy viên Bộ chính trị Phạm Quang Nghị đã vẽ một tương lai rộng mở cho chàng con rể. Ông tin chắc với uy lực của mình, Chiến sẽ vào BTV tỉnh uỷ, trúng cử Ủy viên dự khuyết khoá XII. Sau đó Chiến sẽ ngược trở ra làm Phó Tổng giám đốc Đài truyền hình Viêt Nam và sẽ vào Ủy viên Trung ương khoá XIII, nhiệm kỳ 2016-2021…
Người tính không bằng Trời tính. Gieo “nhân” thì gặt “quả”. Trước thềm đại hội XI của Đảng, ông Phạm Quang Nghị được cho câu kết với đồng hương Thanh Hoá là ông Tô Huy Rứa, dựng lên vụ “Tâm linh Đàn xã tắc”, kéo cả “tiều phu” Nông Đức Mạnh liên thủ tấn công ông Hồ Đức Việt.
Những cuộc phê bình nảy lửa trong các cuộc họp Bộ Chính trị đã đưa ông Hồ Đức Việt, niềm tin và hy vọng của người dân xứ Nghệ, từ ứng viên số 1 vị trí Tổng Bí thư, đến bị loại ra khỏi cuộc đua quyền lực tại Đại hội XI vào tháng 1/2011. Đau buồn, chán nản, ông Hồ Đức Việt phát bệnh và mất hai năm sau đó, tháng 5/2013. Sau vụ việc này, mâu thuẫn, đố kỵ vùng miền trong chốn quan trường, giữa Thanh Hoá và xứ Nghệ (Nghệ An-Hà Tĩnh) đã lên đỉnh điểm.
Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII (1/2016) các Ủy viên Trung ương Đảng “phe xứ Nghệ” lên tới gần 30 người, Nghệ An có 14, Hà Tĩnh có 16 người, nắm vai trò chủ chốt trong Chính phủ có 5 người, trong Quốc Hội gần 10 người, áp đảo hoàn toàn “phe cánh Thanh Hoá”. Vì vậy, các đàn em và “đồ đệ” của ông Phạm Quang Nghị chắc chắn có cái để lo.
Cựu Bí thư thành uỷ Hà Nội Phạm Quang Nghị có 3 con. Ngoài con gái cả Phạm Thị Phương Bình, vợ của Bạch Ngọc Chiến, có cô con gái kế là Phạm Thị Phương Minh và con trai út Phạm Quang Thanh. Cô Phạm Thị Phương Minh là vợ của Nguyễn Văn Dương, còn gọi là Dương “phò mã”.
Tháng 4/2019, Thành ủy Hà Nội đã điều động Phạm Quang Thanh, sinh 1981, Tổng Giám đốc Tổng Công ty Du lịch Hà Nội, về tham gia Ban chấp hành, Ban Thường vụ Huyện ủy Sóc Sơn, đồng thời đảm nhiệm chức vụ Phó bí thư Huyện ủy Sóc Sơn, nhiệm kỳ 2015-2020. Mặc dù Trung ương đưa vào “danh sách quy hoạch”, nhưng với “ân oán giang hồ” mà bố Nghị gây ra, con đường vào Ủy viên dự khuyết Trung ương khoá XIII của Phạm Quanh Thanh sẽ không dễ dàng gì.
Còn con rể Nguyễn Văn Dương, từng làm chủ tịch HĐQT công ty “bình phong” công nghệ CNC, cùng với Phan Sào Nam, vốn là ông trùm tổ chức đường dây đánh bạc ngàn tỷ qua mạng, bị bắt và xét xử năm 2018. Dư luận đồn đoán, Dương chỉ nhận bản án 10 năm tù giam cho hai tội danh “tổ chức đánh bạc” và “rửa tiền”, được miễn truy cứu tội danh “đưa hối lộ”, có khung hình phạt lên đến chung thân hoặc tử hình, là có sự can thiệp của… bố vợ.
Quay lại câu chuyện Bạch Ngọc Chiến. Khi được điều về VUFO, ông Chiến nhận thức và xác định rõ mình đã bị chặn lối đi. Khi mọi cánh cửa gần như đã khép lại với mình, ông Chiến làm đơn xin thôi việc, gởi cơ quan lãnh đạo Đảng và Chính phủ. Dù được hứa hẹn, thuyết phục ở lại, nhưng ông Chiến vẫn khước từ. Báo chí quốc doanh đồng loạt đưa tin, ngày 1/7/2020, Bạch Ngọc Chiến sẽ thôi công chức, ra ngoài làm kinh tế tư nhân.
Ở Việt Nam, con cháu của các lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước thường có hai con đường để làm giàu: Một là làm quan để vơ vét, hai là cậy thế, cậy quyền lợi dụng, thậm chí lũng đoạn chính sách để làm giàu, “bóp cổ” dân và “hút máu” ngân sách. Đã có nhiều trường hợp con của “tứ trụ” không theo quan trường, mà chỉ làm kinh tế tư nhân. Tất nhiên là họ trở thành người giàu, rất giàu là đằng khác, như Lê Kiên Thành con trai ông Lê Duẩn, Phan Thanh Nam và Võ Hiếu Dân con ông Võ Văn Kiệt, Phan Hoàn Ty con trai Phan Văn Khải, Nguyễn Thanh Phượng con gái ông Nguyễn Tấn Dũng… là các “gương mặt điển hình”.
Vì vậy, đừng “lo bò trắng răng” cho trường hợp Bạch Ngọc Chiến. Biết đâu vài năm nữa, một “tư bản đỏ” Bạch Ngọc Chiến sẽ ghi tên mình vào danh sách tỷ phú Việt Nam.
Chế độ cộng sản toàn trị “CHỐNG GIẶC BẰNG CỜ - CHỐNG DÂN BẰNG TAR-21” được “Phạm Minh Vũ” chia sẻ:
Nhân dịp kỷ niệm ngày thành lập Dân quân tự vệ ngày 28-03 vừa qua, bên cạnh hình ảnh vẫn là những loại vũ khí, công cụ hỗ trợ thường thấy như dùi cui, lá chắn, giáp, súng bắn đạn cao su khi lực lượng này biểu dương, thì năm nay, một loại vũ khí đặc biệt được lực lược này phô trương là súng trường tấn công Tar-21.
Tar-21 là súng trường mạnh nhất mà quân đội Việt Nam đang sở hữu. Nó chỉ được trang bị cho một số đơn vị đặc biệt trong đó Hải quân đánh bộ, vì hiện đại và đắt đỏ nên quân đội VN chưa sử dụng rộng rãi.
Dân quân tự vệ ra đời trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh, và nó phát triển để phù hợp trong tình hình quốc gia bị xâm lược tấn công bởi kẻ thù bên ngoài. Thì DQTV được trang bị vũ khí chiến lược chống lại kẻ thù rất phù hợp.
Chiến tranh đã lùi xa, Việt Nam trong thái bình, đúng ra lực lượng này nên chấm dứt sứ mạng của nó, nhưng đảng cộng sản đã sử dụng nó như một công cụ trấn áp trong các cuộc biểu tình Nhân dân. Để thị uy sức mạnh chế độ, và cho lực lượng này lấy le với dân, nhà cầm quyền sử dụng như chân sai vặt, đi làm điều khiển giao thông, đi dọn vỉa hè, dẹp lòng đường để cướp bóc của dân buôn bán hàng rong.
Hình ảnh súng Tar-21 này là thông điệp rất rõ của nhà cầm quyền gửi tới toàn dân VN rằng: đây là món quà đảng sẽ gửi nếu ai dám đi ngược lại quyền lợi của đảng. Một thông điệp đầy múi máu và thuốc súng trong ngày kỷ niệm lực lượng này hồi cuối tháng 3 năm nay.
Trong khi hàng năm ngư dân VN ra khơi để khẳng định chủ quyền theo lời gọi của đảng, hàng trăm vụ tàu của ngư dân VN bị Trung quốc đâm làm chìm, cướp bóc, đánh đập tài sản mà đảng chỉ quan ngại. Đảng chỉ biết tặng cờ cho họ tiếp tục ra khơi trước họng súng của kẻ thù luôn rình rập, như lũ sói hoang muốn ăn tươi nuốt sống ngư dân, trung cộng cướp đảo, chiếm biển VN mà đảng luôn gọi bằng đồng chí, bạn tốt. Thứ để đảng cộng sản chống kẻ thù xâm lược nước ta duy nhất là cờ máu và tình hữu nghị.
Còn trong bờ, quan chức cướp đất, bán biển, phá hoại môi trường sống thì chúng bao che nhau, Nhân dân bao lâu nay thể hiện thái độ ôn hòa, xuống đường thì đảng luôn dùng bạo lực tra tấn, đàn áp đến đổ máu. Còn bây giờ đảng chẳng ngần ngại đem Tar-21 ra để đe dọa.
Sứ mệnh bảo vệ chủ quyền, thì quân đội VN không được trang bị vũ khí hiện đại như Tar-21, còn chống dân thì trang bị tận răng.
Nếu nói chế độ cộng sản ác với dân hèn với giặc vẫn chưa đúng, ví như TQ cũng là cs nhưng lãnh thổ ngày càng mở rộng hơn không hề mất một mét đất nào, tuy ác với dân nhưng không hèn với giặc.
Câu đó chỉ đúng với CSVN, một chế độ mà 4 ngàn năm lịch sử VN chưa bao giờ tồn tại mô hình cầm quyền kiểu này.
Thắng nhân dân, phải chăng là chiến thắng oanh liệt nhất của đảng?
Nguồn: Dân Luận
Những giá trị Mỹ và cộng đồng gốc Việt (tham khảo)
Những giá trị Mỹ và cộng đồng gốc Việt
Nhã Duy
Gửi đến BBC từ Dallas, Texas
5 giờ trước
Nhã Duy
Gửi đến BBC từ Dallas, Texas
5 giờ trước
Giá trị đầu tiên có thể kể là quyền tự do cá nhân mà người Mỹ cổ súy và tôn trọng. Được bảo vệ bằng hiến pháp, người Mỹ có xu hướng suy nghĩ, nói và hành động theo chọn lựa của mình. Họ có những lối sống rất riêng biệt, từ thời trang, thị hiếu cho đến các thói quen, hành xử hàng ngày, nên sẵn sàng bảo vệ, phản kháng một khi họ tin rằng những quyền tự do cá nhân này bị xâm phạm. Đó là lý do mà những quyền tự do mang tầm vóc lớn hơn như tự do ngôn luận và tự do báo chí là điều rất quan trọng trong văn hóa Mỹ.Người Việt ngược lại, có xu hướng xem sự phục tùng, thỏa hiệp là điều quan trọng. Quyết đoán thay con cái, xem sự vâng phục của con cái là khuôn mẫu gia đình. Nên ngoài xã hội, họ thiếu sự tôn trọng quyền tự do của người khác. Một chiếc váy dẫu khó xem của cô người mẫu nào đó cũng tạo nên cuộc tranh luận cộng đồng ồn ào. Hay việc số đông tấn công vào một vài nhân vật cộng đồng trong thời gian qua chỉ vì những người này nêu dăm dữ liệu hay quan điểm cá nhân ôn hòa và khác biệt, là vài ví dụ về điều này.
Bạn đọc nhấn vào hàng tiêu đề để đọc toàn văn trên BBC tiếng Việt
Thursday, July 2, 2020
Mọi! (tham khảo)
Mọi!
May 24, 2020 | by Ban Tu Thư |
Lâm Bình Duy Nhiên
Ngày giáp Noël 2019, từ Paris, tôi vội vã chuẩn bị lái về lại Lausanne để kịp đón lễ Giáng sinh với gia đình. Tôi tạt vào Quận 13 để mua ít đồ ăn.
Tháng 12, thời tiết chỉ hơi se lạnh. Đứng xếp hàng dài cũng độ cả chục thước để mua vài ổ bánh mì thịt. Người đông lại gặp ngay giờ trưa nên khu phố chợ châu Á tấp nập hơn bao giờ hết.
Đang rầu rĩ vì cũng đợi khá lâu mà vẫn chưa thấy nhúc nhích bao nhiêu, bất chợt nghe một giọng phụ nữ hét lên:
– Coi chừng thằng mọi nó giả bộ giành chỗ đó!
Tôi giật mình, nhìn lên thì thấy một chàng thanh niên gốc Phi châu đang nhón chân nhìn vào trong tiệm, như thể đang tìm kiếm gì đó hoặc chỉ xem phía bên trong có đông người không. Anh ta mới đến, có lẽ nóng ruột nên mới chạy tuốt lên phía trên để nhòm ngó. Vẫn giọng nói của người phụ nữ ấy:
– Mấy thằng đen nó lưu manh lắm, không chịu xếp hàng lại muốn giành chỗ.
Tôi ngó lại phía sau, cách tôi hai người, là một chị chừng ngoài 50, vẫn đang chỉ trỏ về phía anh chàng kia, dẫu anh ta đã bỏ đi, không đợi nữa. Tôi nói với chị:
– Trời, thời buổi này mà còn đen với mọi gì nữa chị!
Chị ta khẽ lườm nguýt nhìn tôi, rồi buột miệng:
– Mọi thì nói mọi chứ sao?
Tôi lắc đầu, bỏ cuộc, không nói gì nữa nhưng tự dưng cảm thấy buồn và không vui. Nhiều người xếp hàng, Việt có, Tàu có, Miên có, Tây cũng có. Cái thành phố này, cái xứ sở này và cả Châu Âu này đã trở nên đa văn hoá và đa chủng tộc tự bao giờ nhưng đâu đó vẫn còn những ánh mắt, những nhận xét kỳ thị như thế. Cái từ “mọi” nó có vẻ quá dễ dàng để người ta thốt nên lời!
Có lần, trong xe buýt tại Lausanne, ngồi phía sau, tôi thấy một bé gái, chừng 5, 6 tuổi, chạy ào về phía có chỗ trống. Lập tức, giọng người mẹ la lên:
– Tới đây con, không ngồi gần tụi Chà, tụi nó hôi lắm!
Con bé ngơ ngác, chắc không hiểu hết ý mẹ nó nói, nhưng cũng chạy về phía mẹ nó, một chị người Việt Nam.
“Tụi Chà”, chị ta ám chỉ những người Tamoul, đến từ Sri Lanka. Trong những năm 80 và 90, cuộc nội chiến tại Sri Lanka đã khiến cho hơn 40 ngàn người Hổ Tamoul xin tị nạn chính trị tại Thuỵ Sĩ. Người Tamoul đông và làm nhiều nghề tay chân nặng nhọc. Chỉ có họ, chứ hiếm người Ấn Độ hay Pakistan lập nghiệp tại đây.
Nhiều người Việt vẫn đánh đồng người Tamoul với người Ấn, tức người “Chà Và” và vẫn xem thường sắc dân “ăn cà ri hôi rình” và chỉ biết “lau chùi cầu tiêu” nhà hàng…
Cũng như không biết bao nhiêu lần, khi trò chuyện với những người Việt trong cộng đồng, thậm chí với những người bạn, họ vẫn thường có những suy nghĩ rất lạ lùng. Thậm chí, họ còn huyên thuyên giảng dạy cho con cái họ là đừng chơi với “bọn da đen” ở trường vì “chúng nó ngu, dốt và lười lắm”. Còn “bọn Rệp” thì thôi khỏi nói, toàn là bọn khủng bố cực đoan và cũng lại… ngu dốt nên cũng cần phải tránh xa, không giao du với chúng!
Có lần nọ, đã lâu, khi tôi chưa tham gia sinh hoạt cộng đồng, có đi theo vài người bạn đến ăn cơm tối tại một nhà hàng Việt. Khi chúng tôi vào, bà chủ quán nhìn anh bạn của tôi và nói lớn:
– Dữ chưa, hôm nay dẫn thằng mọi nào tới vậy?
Tôi hiểu liền, nên nói:
– Chào cô.
Bà chủ quán đớ người, chỉ tôi hỏi:
– Ủa, da đen biết nói tiếng Việt hả?
Anh bạn tôi vội vàng giải thích. Cô chủ quán buột miệng xin lỗi và cố giải thích vì nhìn thấy tôi “đen giống tụi da đen quá”!
Dường như cứ là người Việt là cần phải cố tình kỳ thị và phân biệt chủng tộc cho bằng được, cho giống người ta, giống người da trắng thượng đẳng. Người Việt thì phải chia ngôi, chia thứ cho ra lẽ: Bọn da trắng trước, mà phải là da trắng kiểu Anh, Mỹ, Pháp, Đức, Úc,…, chứ kiểu Nam Tư cũ, Bồ Đào Nha thì cũng chẳng ra gì. Sau đó đến Nhật, Đại Hàn.
Người Việt hẳn nhiên phải hơn hẳn các sắc dân còn lại: Đen, Rệp, Chệch, Chà, Thổ,… Đó là điều rõ ràng, không thể tranh cãi. Người mình thông minh hơn, cần cù hơn, lương thiện hơn. Tóm lại, cái gì cũng nhất cả, chỉ chịu sau mỗi bọn da trắng và da vàng kia thôi.
Cho nên, từ nhỏ, khi xem phim, con nít đã cứ tha hồ “Bọn mọi da đen” hay “Mọi da đỏ” này nọ. Từ “thổ dân” thì chẳng mấy ai sử dụng. Thời xưa cổ hủ, cố chấp thì “Me Tây”, “Me Mỹ”, rồi “Chệch”, rồi “Chà” thế nhưng ngày nay, khi biên giới giữa các quốc gia đang dần dần bị xoá bỏ, khi con người có nhu cầu sinh sống, làm việc hay lập nghiệp khắp nơi trên thế giới thì nhiều người Việt vẫn còn mang nặng tư tưởng kỳ thị các sắc dân da màu khác.
Trong những cuộc tranh luận mỗi khi có bầu cử tại Thuỵ Sĩ hay Pháp, không hiếm người Việt hồ hởi cho rằng phải bỏ phiếu cho các đảng cực hữu để họ tống cổ bọn “Mọi” và “Rệp” về nước của họ! Họ cố tình không muốn hiểu đó là những người có quốc tịch thậm chí sinh ra và trưởng thành tại đây từ 2 hay 3 thế hệ.
Cứ như thể chỉ có người Việt là xứng đáng được có quốc tịch và là những công dân gương mẫu.
Nếu như trong tiếng Pháp có từ “négro” bị xem như là một sự xúc phạm, kỳ thị người da đen. thì người Việt cũng có từ “mọi”. Tuy nhiên, tại Pháp hay Thuỵ Sĩ, những ai buộc miệng nói lên từ này đều bị lên án và có thậm chí có thể bị phạt thì người Việt mình vẫn còn “vô tư” chế giễu hay kỳ thị người da đen một cách thoải mái, không ngại bị phạt gì cả. Trong nước cũng thế, bên ngoài cũng vậy, cứ tha hồ “mọi” này, “mọi” kia bằng tiếng Việt với nhau, rồi cười ầm cả nhà khoái chí vì tự cho mình thượng đẳng hơn kẻ khác.
Thế cho nên mới có chuyện ông cựu Tổng Thống Mỹ Obama bị nhiều người Việt, không chỉ riêng bên Mỹ, mà cả tại Việt Nam, buông lời miệt thị nặng nề. Dĩ nhiên, chê bai hay phản đối lại những thành tựu hay những hậu quả của ông ta đã để lại cho nước Mỹ vượt quá khả năng hiểu biết nên họ chỉ nhắm vào cái dễ nhất, cái bắt mắt nhất: màu da đen của ông ta.
Không quá khó để tìm thấy những lời chửi rủa đậm tính chất kỳ thị sắc tộc đối với vợ chồng ông. Nào “mọi”, nào “man rợ”, nào “rừng rú” hay “đười ươi”. Thậm chí nhiều kẻ vẫn không ngượng khi rêu rao những lập luận bệnh hoạn của các nhóm cực đoan da trắng khi cho rằng máu của ông Obama không phải là máu tinh khiết thuần trắng và siêu việt!
Họ phấn khởi truyền cho nhau tấm ảnh ông Obama gác chân lên bàn làm việc khi trao đổi với các cộng sự và cho rằng đó là “Chó Nhảy Bàn Độc” nhằm hạ uy tín ông ta cũng như chứng minh rằng “mọi” thì vẫn là “mọi” dẫu có làm tổng thống đi chăng nữa.
Tuy nhiên, họ cố tình quên rằng, nhiều vị tổng thống da trắng khác cũng có tác phong như thế khi làm việc. Có lẽ, họ sẽ biện minh rằng đó mới chính là cái uy, cái dũng của một vị tổng thống một cường quốc!
Ảnh trên từ trái: Tổng Thống Ford và Nixon; ảnh dưới: Bush (con) và Carter đều gác chân lên bàn. Nguồn: Hoàng Ngọc Tuấn sưu tập
Khó có thể hình dung những lời chửi rủa mang tính chất kỳ thị chủng tộc như thế lại có thể tồn tại và không bị trừng phạt ngay tại Mỹ hay nhiều nước phương Tây. Tiếc thay, đó lại là sự thật. Tiếng Việt là ngôn ngữ của một thiểu số và nó chỉ tồn tại quanh quẩn giữa những người Việt với nhau. Họ tha hồ chửi rủa, tha hồ miệt thị những sắc dân khác bằng tiếng Việt. Không ai hiểu, không ai lên án, không ai tố cáo họ. Nhưng qua đó, có một sự thật khác khiến chúng ta không thể chối bỏ, đó là người Việt chúng ta, dẫu ở đâu đi chăng nữa, vẫn chỉ là một sắc dân không hội nhập với người bản xứ. Cứ đóng cửa chơi với nhau, chửi bới nhau, kỳ thị nhau, đố ai biết được!
Ông Tedros Adhanom, tổng giám đốc WHO, bị nhiều chỉ trích, chê bai vì cách quản lý, điều hành kém cỏi trong vụ đại dịch Coronavirus, là điều hiển nhiên. Ông ta và WHO đã quá lệ thuộc vào Trung Cộng nên bị dư luận nguyền rủa. Nhưng thay vì phản biện một cách khoa học thì nhiều người Việt không ngừng ngại mắng mỏ “thằng mọi này” hay “thằng mọi kia” bao giờ từ chức? Cứ như thể là da màu, nhất là da đen thì không thể nào nắm giữ những chức vụ quan trọng.
Cụ Phan Châu Trinh từng viết: “Dân tộc nước Nam, trên lịch sử, có hai đặc tính cực đoan phản đối nhau: Một là đặc tính bài ngoại và ỷ ngoại; hai là đặc tính tự tôn và tự ti. Hai đặc tính đó sẵn ở quốc dân, trong não mọi người. Mỗi cái nhân thời thế, địa vị của nó mà phát hiện, rồi trong khi phát hiện lại đều đi tới cực đoan, lại khi đã tới cực đoan, mỗi cái đều giữ lý do, chuyên cậy vào tập quán, lợi hại đều bị che lấp không thấy”.
Thật vậy, cực đoan bài ngoại và ỷ ngoại. “Bài” tất cả những gì mà ta cho rằng yếu kém, hạ đẳng, rừng rú, man di, mọi rợ. “Ỷ” lại những gì ta cho là siêu việt, thượng đẳng và tiến bộ. Hai đặc tính ấy đã trở thành một phần máu mủ tạo nên cá tính con người mình. Khi đã ở hai thái cực của sự cực đoan thì hệ quả tiếp theo là tính tự tôn và tự ti. Chỉ có thế mới khiến người Việt luôn ở trong trạng thái sợ bị so sánh, nhòm ngó và bằng mọi giá phải chứng tỏ cho thế giới biết rằng mình còn “hơn cả khối người” trong thiên hạ. Cái tâm lý thà bị “da trắng” đè đầu, cưỡi cổ còn hơn bị “da màu” vượt mặt khiến người Việt trở nên kỳ thị các sắc dân khác hơn bao giờ hết.
Đó chắc chắn là tâm lý tự ti của không ít người Việt “bỗng dưng” bị một anh “da đen” lại còn “Hồi Giáo” (theo các thuyết âm mưu) làm tổng thống Hoa Kỳ, cả hai nhiệm kỳ. Đối với họ, đó là một sự “xúc phạm” không thể nào chấp nhận.
Khổ nổi, nhiều người Việt, xem như thể họ có quyền kỳ thị và phân biệt chủng tộc với thế giới còn lại. Họ cho rằng đó là điều hiển nhiên, đó là quy luật tự nhiên. Họ không chịu hiểu rằng nhân loại đã phải tranh đấu nhiều vì công bằng và công lý cho mọi sắc tộc.
Từ Rosa Parks đến Martin Luther King hay Tommie Smith và John Carlos đến Nelson Mandela, nước Mỹ và thế giới tiến bộ đã biết sửa đổi những sai lầm. Họ trung thực và can đảm chấp nhận những lầm lỗi. Người Việt dường như vẫn chưa hiểu hết được sự nguy hiểm và mức độ tàn bạo của sự phân biệt chủng tộc trong lịch sử nhân loại. Họ vẫn vô tình hay cố tình cổ suý cho chủ nghĩa vị chủng và chủ nghĩa dân tộc cực đoan, dẫu suy cho cùng dân tộc Việt vẫn chỉ là một dân tộc nhỏ bé, nhược tiểu, vẫn chưa có đóng góp quan trọng nào cho nhân loại cả!
Sự kỳ thị và phân biệt chủng tộc vẫn là một đề tài nhạy cảm. Khó có thể ngăn cấm hoàn toàn những suy nghĩ thầm kín của con người, nhất khi nó thuộc về bản năng. Ngày nay, những làn sóng bài ngoại, chủ nghĩa dân tộc cực đoan hô hào tính thượng đẳng của người da trắng đang dần dần trỗi dậy tại các quốc gia phương Tây. Tuy chỉ là thiểu số nhưng đó là những tín hiệu nguy hiểm cho sự rạn nứt, có thể xảy ra, của những xã hội đa văn hoá và đa chủng tộc.
Chỉ có sự giáo dục nghiêm túc từ nhà trường đến gia đình mới giúp cho các thế hệ trẻ đồng cảm với những nỗi thống khổ của các sắc dân khác, từ đó xây dựng một xã hội nhân bản nơi sự kỳ thị và phân biệt chủng tộc phải bị tẩy chay là lên án. Đó chính là sự quan tâm tâm và mục tiêu hàng đầu của các chính phủ để tránh lập lại những sai lầm tai hại trong quá khứ.
Tiếc thay, dường như đó chưa bao giờ là ý tưởng và mục tiêu giáo dục chung của người Việt.
Và không biết đến bao giờ cái văn hoá khinh thường, miệt thị và phân biệt chủng tộc nơi người Việt mới thực sự bị xoá bỏ và lên án.
Bởi vì, chỉ khi ấy, dân tộc Việt mới thực sự hội nhập vào thế giới văn minh và nhân bản!
_____
Tác giả Lâm Bình Duy Nhiên, là người gốc Việt sống ở Lausanne, Thụy Sĩ.
_____
Nguồn: tvvn.org
May 24, 2020 | by Ban Tu Thư |
Lâm Bình Duy Nhiên
Ngày giáp Noël 2019, từ Paris, tôi vội vã chuẩn bị lái về lại Lausanne để kịp đón lễ Giáng sinh với gia đình. Tôi tạt vào Quận 13 để mua ít đồ ăn.
Tháng 12, thời tiết chỉ hơi se lạnh. Đứng xếp hàng dài cũng độ cả chục thước để mua vài ổ bánh mì thịt. Người đông lại gặp ngay giờ trưa nên khu phố chợ châu Á tấp nập hơn bao giờ hết.
Đang rầu rĩ vì cũng đợi khá lâu mà vẫn chưa thấy nhúc nhích bao nhiêu, bất chợt nghe một giọng phụ nữ hét lên:
– Coi chừng thằng mọi nó giả bộ giành chỗ đó!
Tôi giật mình, nhìn lên thì thấy một chàng thanh niên gốc Phi châu đang nhón chân nhìn vào trong tiệm, như thể đang tìm kiếm gì đó hoặc chỉ xem phía bên trong có đông người không. Anh ta mới đến, có lẽ nóng ruột nên mới chạy tuốt lên phía trên để nhòm ngó. Vẫn giọng nói của người phụ nữ ấy:
– Mấy thằng đen nó lưu manh lắm, không chịu xếp hàng lại muốn giành chỗ.
Tôi ngó lại phía sau, cách tôi hai người, là một chị chừng ngoài 50, vẫn đang chỉ trỏ về phía anh chàng kia, dẫu anh ta đã bỏ đi, không đợi nữa. Tôi nói với chị:
– Trời, thời buổi này mà còn đen với mọi gì nữa chị!
Chị ta khẽ lườm nguýt nhìn tôi, rồi buột miệng:
– Mọi thì nói mọi chứ sao?
Tôi lắc đầu, bỏ cuộc, không nói gì nữa nhưng tự dưng cảm thấy buồn và không vui. Nhiều người xếp hàng, Việt có, Tàu có, Miên có, Tây cũng có. Cái thành phố này, cái xứ sở này và cả Châu Âu này đã trở nên đa văn hoá và đa chủng tộc tự bao giờ nhưng đâu đó vẫn còn những ánh mắt, những nhận xét kỳ thị như thế. Cái từ “mọi” nó có vẻ quá dễ dàng để người ta thốt nên lời!
Có lần, trong xe buýt tại Lausanne, ngồi phía sau, tôi thấy một bé gái, chừng 5, 6 tuổi, chạy ào về phía có chỗ trống. Lập tức, giọng người mẹ la lên:
– Tới đây con, không ngồi gần tụi Chà, tụi nó hôi lắm!
Con bé ngơ ngác, chắc không hiểu hết ý mẹ nó nói, nhưng cũng chạy về phía mẹ nó, một chị người Việt Nam.
“Tụi Chà”, chị ta ám chỉ những người Tamoul, đến từ Sri Lanka. Trong những năm 80 và 90, cuộc nội chiến tại Sri Lanka đã khiến cho hơn 40 ngàn người Hổ Tamoul xin tị nạn chính trị tại Thuỵ Sĩ. Người Tamoul đông và làm nhiều nghề tay chân nặng nhọc. Chỉ có họ, chứ hiếm người Ấn Độ hay Pakistan lập nghiệp tại đây.
Nhiều người Việt vẫn đánh đồng người Tamoul với người Ấn, tức người “Chà Và” và vẫn xem thường sắc dân “ăn cà ri hôi rình” và chỉ biết “lau chùi cầu tiêu” nhà hàng…
Cũng như không biết bao nhiêu lần, khi trò chuyện với những người Việt trong cộng đồng, thậm chí với những người bạn, họ vẫn thường có những suy nghĩ rất lạ lùng. Thậm chí, họ còn huyên thuyên giảng dạy cho con cái họ là đừng chơi với “bọn da đen” ở trường vì “chúng nó ngu, dốt và lười lắm”. Còn “bọn Rệp” thì thôi khỏi nói, toàn là bọn khủng bố cực đoan và cũng lại… ngu dốt nên cũng cần phải tránh xa, không giao du với chúng!
Có lần nọ, đã lâu, khi tôi chưa tham gia sinh hoạt cộng đồng, có đi theo vài người bạn đến ăn cơm tối tại một nhà hàng Việt. Khi chúng tôi vào, bà chủ quán nhìn anh bạn của tôi và nói lớn:
– Dữ chưa, hôm nay dẫn thằng mọi nào tới vậy?
Tôi hiểu liền, nên nói:
– Chào cô.
Bà chủ quán đớ người, chỉ tôi hỏi:
– Ủa, da đen biết nói tiếng Việt hả?
Anh bạn tôi vội vàng giải thích. Cô chủ quán buột miệng xin lỗi và cố giải thích vì nhìn thấy tôi “đen giống tụi da đen quá”!
Dường như cứ là người Việt là cần phải cố tình kỳ thị và phân biệt chủng tộc cho bằng được, cho giống người ta, giống người da trắng thượng đẳng. Người Việt thì phải chia ngôi, chia thứ cho ra lẽ: Bọn da trắng trước, mà phải là da trắng kiểu Anh, Mỹ, Pháp, Đức, Úc,…, chứ kiểu Nam Tư cũ, Bồ Đào Nha thì cũng chẳng ra gì. Sau đó đến Nhật, Đại Hàn.
Người Việt hẳn nhiên phải hơn hẳn các sắc dân còn lại: Đen, Rệp, Chệch, Chà, Thổ,… Đó là điều rõ ràng, không thể tranh cãi. Người mình thông minh hơn, cần cù hơn, lương thiện hơn. Tóm lại, cái gì cũng nhất cả, chỉ chịu sau mỗi bọn da trắng và da vàng kia thôi.
Cho nên, từ nhỏ, khi xem phim, con nít đã cứ tha hồ “Bọn mọi da đen” hay “Mọi da đỏ” này nọ. Từ “thổ dân” thì chẳng mấy ai sử dụng. Thời xưa cổ hủ, cố chấp thì “Me Tây”, “Me Mỹ”, rồi “Chệch”, rồi “Chà” thế nhưng ngày nay, khi biên giới giữa các quốc gia đang dần dần bị xoá bỏ, khi con người có nhu cầu sinh sống, làm việc hay lập nghiệp khắp nơi trên thế giới thì nhiều người Việt vẫn còn mang nặng tư tưởng kỳ thị các sắc dân da màu khác.
Trong những cuộc tranh luận mỗi khi có bầu cử tại Thuỵ Sĩ hay Pháp, không hiếm người Việt hồ hởi cho rằng phải bỏ phiếu cho các đảng cực hữu để họ tống cổ bọn “Mọi” và “Rệp” về nước của họ! Họ cố tình không muốn hiểu đó là những người có quốc tịch thậm chí sinh ra và trưởng thành tại đây từ 2 hay 3 thế hệ.
Cứ như thể chỉ có người Việt là xứng đáng được có quốc tịch và là những công dân gương mẫu.
Nếu như trong tiếng Pháp có từ “négro” bị xem như là một sự xúc phạm, kỳ thị người da đen. thì người Việt cũng có từ “mọi”. Tuy nhiên, tại Pháp hay Thuỵ Sĩ, những ai buộc miệng nói lên từ này đều bị lên án và có thậm chí có thể bị phạt thì người Việt mình vẫn còn “vô tư” chế giễu hay kỳ thị người da đen một cách thoải mái, không ngại bị phạt gì cả. Trong nước cũng thế, bên ngoài cũng vậy, cứ tha hồ “mọi” này, “mọi” kia bằng tiếng Việt với nhau, rồi cười ầm cả nhà khoái chí vì tự cho mình thượng đẳng hơn kẻ khác.
Thế cho nên mới có chuyện ông cựu Tổng Thống Mỹ Obama bị nhiều người Việt, không chỉ riêng bên Mỹ, mà cả tại Việt Nam, buông lời miệt thị nặng nề. Dĩ nhiên, chê bai hay phản đối lại những thành tựu hay những hậu quả của ông ta đã để lại cho nước Mỹ vượt quá khả năng hiểu biết nên họ chỉ nhắm vào cái dễ nhất, cái bắt mắt nhất: màu da đen của ông ta.
Không quá khó để tìm thấy những lời chửi rủa đậm tính chất kỳ thị sắc tộc đối với vợ chồng ông. Nào “mọi”, nào “man rợ”, nào “rừng rú” hay “đười ươi”. Thậm chí nhiều kẻ vẫn không ngượng khi rêu rao những lập luận bệnh hoạn của các nhóm cực đoan da trắng khi cho rằng máu của ông Obama không phải là máu tinh khiết thuần trắng và siêu việt!
Họ phấn khởi truyền cho nhau tấm ảnh ông Obama gác chân lên bàn làm việc khi trao đổi với các cộng sự và cho rằng đó là “Chó Nhảy Bàn Độc” nhằm hạ uy tín ông ta cũng như chứng minh rằng “mọi” thì vẫn là “mọi” dẫu có làm tổng thống đi chăng nữa.
Tuy nhiên, họ cố tình quên rằng, nhiều vị tổng thống da trắng khác cũng có tác phong như thế khi làm việc. Có lẽ, họ sẽ biện minh rằng đó mới chính là cái uy, cái dũng của một vị tổng thống một cường quốc!
Ảnh trên từ trái: Tổng Thống Ford và Nixon; ảnh dưới: Bush (con) và Carter đều gác chân lên bàn. Nguồn: Hoàng Ngọc Tuấn sưu tập
Khó có thể hình dung những lời chửi rủa mang tính chất kỳ thị chủng tộc như thế lại có thể tồn tại và không bị trừng phạt ngay tại Mỹ hay nhiều nước phương Tây. Tiếc thay, đó lại là sự thật. Tiếng Việt là ngôn ngữ của một thiểu số và nó chỉ tồn tại quanh quẩn giữa những người Việt với nhau. Họ tha hồ chửi rủa, tha hồ miệt thị những sắc dân khác bằng tiếng Việt. Không ai hiểu, không ai lên án, không ai tố cáo họ. Nhưng qua đó, có một sự thật khác khiến chúng ta không thể chối bỏ, đó là người Việt chúng ta, dẫu ở đâu đi chăng nữa, vẫn chỉ là một sắc dân không hội nhập với người bản xứ. Cứ đóng cửa chơi với nhau, chửi bới nhau, kỳ thị nhau, đố ai biết được!
Ông Tedros Adhanom, tổng giám đốc WHO, bị nhiều chỉ trích, chê bai vì cách quản lý, điều hành kém cỏi trong vụ đại dịch Coronavirus, là điều hiển nhiên. Ông ta và WHO đã quá lệ thuộc vào Trung Cộng nên bị dư luận nguyền rủa. Nhưng thay vì phản biện một cách khoa học thì nhiều người Việt không ngừng ngại mắng mỏ “thằng mọi này” hay “thằng mọi kia” bao giờ từ chức? Cứ như thể là da màu, nhất là da đen thì không thể nào nắm giữ những chức vụ quan trọng.
Cụ Phan Châu Trinh từng viết: “Dân tộc nước Nam, trên lịch sử, có hai đặc tính cực đoan phản đối nhau: Một là đặc tính bài ngoại và ỷ ngoại; hai là đặc tính tự tôn và tự ti. Hai đặc tính đó sẵn ở quốc dân, trong não mọi người. Mỗi cái nhân thời thế, địa vị của nó mà phát hiện, rồi trong khi phát hiện lại đều đi tới cực đoan, lại khi đã tới cực đoan, mỗi cái đều giữ lý do, chuyên cậy vào tập quán, lợi hại đều bị che lấp không thấy”.
Thật vậy, cực đoan bài ngoại và ỷ ngoại. “Bài” tất cả những gì mà ta cho rằng yếu kém, hạ đẳng, rừng rú, man di, mọi rợ. “Ỷ” lại những gì ta cho là siêu việt, thượng đẳng và tiến bộ. Hai đặc tính ấy đã trở thành một phần máu mủ tạo nên cá tính con người mình. Khi đã ở hai thái cực của sự cực đoan thì hệ quả tiếp theo là tính tự tôn và tự ti. Chỉ có thế mới khiến người Việt luôn ở trong trạng thái sợ bị so sánh, nhòm ngó và bằng mọi giá phải chứng tỏ cho thế giới biết rằng mình còn “hơn cả khối người” trong thiên hạ. Cái tâm lý thà bị “da trắng” đè đầu, cưỡi cổ còn hơn bị “da màu” vượt mặt khiến người Việt trở nên kỳ thị các sắc dân khác hơn bao giờ hết.
Đó chắc chắn là tâm lý tự ti của không ít người Việt “bỗng dưng” bị một anh “da đen” lại còn “Hồi Giáo” (theo các thuyết âm mưu) làm tổng thống Hoa Kỳ, cả hai nhiệm kỳ. Đối với họ, đó là một sự “xúc phạm” không thể nào chấp nhận.
Khổ nổi, nhiều người Việt, xem như thể họ có quyền kỳ thị và phân biệt chủng tộc với thế giới còn lại. Họ cho rằng đó là điều hiển nhiên, đó là quy luật tự nhiên. Họ không chịu hiểu rằng nhân loại đã phải tranh đấu nhiều vì công bằng và công lý cho mọi sắc tộc.
Từ Rosa Parks đến Martin Luther King hay Tommie Smith và John Carlos đến Nelson Mandela, nước Mỹ và thế giới tiến bộ đã biết sửa đổi những sai lầm. Họ trung thực và can đảm chấp nhận những lầm lỗi. Người Việt dường như vẫn chưa hiểu hết được sự nguy hiểm và mức độ tàn bạo của sự phân biệt chủng tộc trong lịch sử nhân loại. Họ vẫn vô tình hay cố tình cổ suý cho chủ nghĩa vị chủng và chủ nghĩa dân tộc cực đoan, dẫu suy cho cùng dân tộc Việt vẫn chỉ là một dân tộc nhỏ bé, nhược tiểu, vẫn chưa có đóng góp quan trọng nào cho nhân loại cả!
Sự kỳ thị và phân biệt chủng tộc vẫn là một đề tài nhạy cảm. Khó có thể ngăn cấm hoàn toàn những suy nghĩ thầm kín của con người, nhất khi nó thuộc về bản năng. Ngày nay, những làn sóng bài ngoại, chủ nghĩa dân tộc cực đoan hô hào tính thượng đẳng của người da trắng đang dần dần trỗi dậy tại các quốc gia phương Tây. Tuy chỉ là thiểu số nhưng đó là những tín hiệu nguy hiểm cho sự rạn nứt, có thể xảy ra, của những xã hội đa văn hoá và đa chủng tộc.
Chỉ có sự giáo dục nghiêm túc từ nhà trường đến gia đình mới giúp cho các thế hệ trẻ đồng cảm với những nỗi thống khổ của các sắc dân khác, từ đó xây dựng một xã hội nhân bản nơi sự kỳ thị và phân biệt chủng tộc phải bị tẩy chay là lên án. Đó chính là sự quan tâm tâm và mục tiêu hàng đầu của các chính phủ để tránh lập lại những sai lầm tai hại trong quá khứ.
Tiếc thay, dường như đó chưa bao giờ là ý tưởng và mục tiêu giáo dục chung của người Việt.
Và không biết đến bao giờ cái văn hoá khinh thường, miệt thị và phân biệt chủng tộc nơi người Việt mới thực sự bị xoá bỏ và lên án.
Bởi vì, chỉ khi ấy, dân tộc Việt mới thực sự hội nhập vào thế giới văn minh và nhân bản!
_____
Tác giả Lâm Bình Duy Nhiên, là người gốc Việt sống ở Lausanne, Thụy Sĩ.
_____
Nguồn: tvvn.org
Viên chức suốt đời (tham khảo)
Viên chức suốt đời
Vũ Ngọc Bảo
Thứ sáu, 3/7/2020
“Tao bỏ việc!”. Quăng đơn nghỉ việc lên bàn tôi, uống cạn ly rượu, người bạn nói.
Học cùng lớp đại học với tôi, tốt nghiệp xuất sắc, bạn tôi đạt học bổng ra nước ngoài học thạc sĩ rồi tiến sĩ. Cơ hội làm việc ở "tây" mở ra trước mắt, nhưng cậu chọn con đường về nước cống hiến "để giúp quê hương". Được hưởng chế độ đặc thù tuyển dụng vào cơ quan nhà nước, thay vì các vị trí quản lý, bạn tôi xin xuống nơi thấp nhất, làm kỹ sư trong xưởng sản xuất nơi tôi giữ chân quản lý nhân sự. Được tuyển dụng và làm việc ở đây, coi như chúng tôi có biên chế trọn đời.
Đã học chung đại học, giờ công tác cùng nhau, chúng tôi chia sẻ rất nhiều. Bạn tôi làm việc điên cuồng không kể ngày đêm, thứ bảy hay chủ nhật. Có khi thiết bị trong xưởng hư hỏng, cậu thức thâu đêm đọc tài liệu để khắc phục sửa chữa.
Công ty chúng tôi quy định nhân viên phải đến vị trí trước 15 phút để thay đồ bảo hộ, chuẩn bị công cụ và nhận bàn giao công việc. Nhưng thường chúng tôi đến trễ, nấu nước uống trà sau đó mới thay đồ làm việc. Làm một lúc, rồi nghỉ giữa giờ, rồi kết thúc giờ làm việc thường sớm hơn khoảng 30 phút để... uống trà và nói đủ thứ chuyện trên đời.
Là lính mới, cậu bạn được nhắc đi rửa chén, nấu nước, pha trà đầu giờ sáng, nghỉ giải lao giữa giờ hay cuối buổi làm việc. Buổi sáng làm việc của chúng tôi thường kết thúc khoảng 10 giờ 30 và buổi chiều khoảng 16 giờ 30, khi tiếng người thợ già sắp về hưu vang lên: "Việc nhà nước làm cả đời không hết, nghỉ thôi!". Mỗi ngày, thời gian làm việc thực tế của chúng tôi chưa đến bốn giờ đồng hồ. Nhìn tiến sĩ du học về nước nín nhịn "cống hiến" ở đây, tôi thấy ái ngại.
Tuy vậy, với nhiều ban bệnh được giải quyết, nhiều quy trình được đề xuất chỉnh sửa, cậu nhanh chóng khẳng định mình. Bạn tôi được đề nghị làm phó, rồi trưởng bộ phận sản xuất. Cậu nhanh chóng áp dụng nhiều biện pháp cải tiến năng suất. Một trong những cải cách là vận động công nhân giảm thời gian uống nước trà đầu giờ, rút ngắn thời gian giải lao giữa giờ. Bạn tôi tách riêng những người có năng suất cao vào một nhóm để giao việc cụ thể, thành lập các nhóm sản xuất với nhóm trưởng được giao đánh giá cụ thể từng vị trí, cũng là cơ chế mới để đánh giá và phân loại năng lực nhân viên.
Tôi bị ảnh hưởng lây. Đang ù lì, tôi trở nên hoạt bát và nhanh nhẹn hẳn, miệt mài hỗ trợ bạn mình. Nhờ những cải tiến của cậu ấy, năng suất và chất lượng của đơn vị tôi tăng vọt. Doanh số tăng gấp nhiều lần năm trước.
Tuy nhiên, cuối năm là thời điểm căng thẳng khi bình xét thi đua, đề xuất cá nhân xuất sắc được đi du lịch, nâng lương. Bạn tôi lựa chọn những người trẻ, có kiến thức, nhiệt huyết đề nghị bình chọn lao động xuất sắc. Một số lao động cao tuổi không còn đáp ứng chất lượng và tiến độ công việc được cậu đề xuất chuyển sang các công việc nhẹ hơn như bảo vệ, văn thư. Đây là lúc sóng gió nổi lên. Những người cao tuổi, năng suất thấp, có chất lượng sản phẩm tệ, thường đi muộn về sớm, nhưng lại là cây đa cây đề lên tiếng. Họ tới gặp người sếp cũ giờ đây đã là quản lý cấp trên, nêu ý kiến trong các buổi nhậu. Tôi, vì phụ trách nhân sự nên cũng nhận được nhiều thư phản đối nặc danh hoặc khuyết danh. Khi tôi tổng hợp các ý kiến đưa lên cấp trên, cũng chính là người quản lý cũ, ông phê bình bạn tôi làm mất đoàn kết nội bộ và chỉ đạo: "trước làm sao giờ cứ thế mà làm".
Ngay sau đó, các đề xuất cải tiến không được phê duyệt. Công việc đình trệ. Trong khi đó với năng lực tốt, bạn tôi lấy thêm được ngày càng nhiều hợp đồng, trúng thầu ngày nhiều dự án. Lượng việc tăng thêm nhưng năng suất quay lại như cũ. Giọt nước tràn ly là khi bạn tôi đề nghị tuyển dụng thêm công nhân sửa chữa ô tô nhưng lại bị yêu cầu tiếp nhận một kỹ sư điện tử - người mà anh phỏng vấn còn không biết đọc sơ đồ điện. Bạn tôi rơi vào bế tắc, xin nghỉ việc.
Chế độ "biên chế trọn đời" đã thành kinh điển nhiều năm qua. Hàng triệu người lao động ở Việt Nam hiểu rằng bên sử dụng lao động là nhà nước, sau khi ký hợp đồng sẽ bảo đảm trọn đời cho công việc ổn định của viên chức. Luật bất thành văn được hiểu rằng các đơn vị nhà nước không được sa thải người lao động nếu không chứng minh được khả năng không đáp ứng năng lực của người lao động - một việc theo quy định rất phức tạp. Chế độ này tạo ra các "lão làng" trong công sở, thường xuyên được thế hệ trẻ bầu là lao động tiến tiến, xuất sắc, hay nể quá thì "né ra cho lành".
Biên chế trọn đời giúp đảm bảo quyền lợi cán bộ nhà nước trong dài hạn. Viên chức yên tâm cống hiến, lao vào những vùng khó khăn mà không sợ bị mất việc. Tuy nhiên, một thực tế là rất nhiều người khi đã vào biên chế rồi thì chây ì, lười nhác, đi muộn về sớm, thích đấu đá quyền lợi hơn là học hỏi, cống hiến. Đây là một thất bại của thị trường lao động.
Biên chế suốt đời tạo ra nhiều chuyện dở khóc dở cười trong các cơ quan nhà nước. Tình trạng "nhàn cư vi bất thiện", đấu đá nội bộ, phe cánh, gạt người có năng lực và có tâm ra khỏi bộ máy làm giảm nguồn lực và năng suất của tổ chức. Điều này dẫn đến công việc bị tồn đọng, muốn giải quyết, người sử dụng lao động buộc phải tuyển dụng bổ sung dẫn đến bộ máy ngày càng phình to, tình trạng quan liêu trì trệ ngày càng nặng. Môi trường ấy không khuyến khích người có năng lực hay quy tụ được giới tinh hoa, như ta đều đã thấy.
Tin tốt là Việt Nam không còn chế độ viên chức suốt đời, theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức được Quốc hội thông qua tháng 11/2019, hiệu lực từ 1/7/2020. Thay đổi này được kỳ vọng khoác chiếc áo mới lên khu vực cán bộ viên chức, hạn chế tình trạng chây ì, lười nhác, vô trách nhiệm khi xử lý việc công với doanh nghiệp và nhân dân; đồng nghĩa với việc xóa bỏ tâm lý vào được nhà nước là "ấm chân đến khi cầm sổ hưu".
Bỏ biên chế trọn đời chưa đủ, ta còn phải trao cho những người quản lý viên chức quyền lực thực sự, cùng chế độ thu nhập và đãi ngộ minh bạch, công bằng, khuyến khích nhiệt huyết của những người muốn đóng góp cho khu vực công một cách đường đường chính chính. Tôi cho rằng, một cơ chế kiểm tra đánh giá năng lực viên chức công tâm và khoa học, hiệu quả, nếu được ban hành sẽ giúp sự thay đổi trên trong luật không trở thành hình thức.
Khi có "vũ khí" trong tay bằng chính các quy định thiết thực, người quản lý các viên chức mới dám dấn thân chọn lựa những người trẻ có tâm và tài như bạn tôi thay vì chịu thua các cây đa cây đề chỉ lo giật dây thủ trưởng.
Vũ Ngọc Bảo
Nguồn: VnExpress
Vũ Ngọc Bảo
Thứ sáu, 3/7/2020
“Tao bỏ việc!”. Quăng đơn nghỉ việc lên bàn tôi, uống cạn ly rượu, người bạn nói.
Học cùng lớp đại học với tôi, tốt nghiệp xuất sắc, bạn tôi đạt học bổng ra nước ngoài học thạc sĩ rồi tiến sĩ. Cơ hội làm việc ở "tây" mở ra trước mắt, nhưng cậu chọn con đường về nước cống hiến "để giúp quê hương". Được hưởng chế độ đặc thù tuyển dụng vào cơ quan nhà nước, thay vì các vị trí quản lý, bạn tôi xin xuống nơi thấp nhất, làm kỹ sư trong xưởng sản xuất nơi tôi giữ chân quản lý nhân sự. Được tuyển dụng và làm việc ở đây, coi như chúng tôi có biên chế trọn đời.
Đã học chung đại học, giờ công tác cùng nhau, chúng tôi chia sẻ rất nhiều. Bạn tôi làm việc điên cuồng không kể ngày đêm, thứ bảy hay chủ nhật. Có khi thiết bị trong xưởng hư hỏng, cậu thức thâu đêm đọc tài liệu để khắc phục sửa chữa.
Công ty chúng tôi quy định nhân viên phải đến vị trí trước 15 phút để thay đồ bảo hộ, chuẩn bị công cụ và nhận bàn giao công việc. Nhưng thường chúng tôi đến trễ, nấu nước uống trà sau đó mới thay đồ làm việc. Làm một lúc, rồi nghỉ giữa giờ, rồi kết thúc giờ làm việc thường sớm hơn khoảng 30 phút để... uống trà và nói đủ thứ chuyện trên đời.
Là lính mới, cậu bạn được nhắc đi rửa chén, nấu nước, pha trà đầu giờ sáng, nghỉ giải lao giữa giờ hay cuối buổi làm việc. Buổi sáng làm việc của chúng tôi thường kết thúc khoảng 10 giờ 30 và buổi chiều khoảng 16 giờ 30, khi tiếng người thợ già sắp về hưu vang lên: "Việc nhà nước làm cả đời không hết, nghỉ thôi!". Mỗi ngày, thời gian làm việc thực tế của chúng tôi chưa đến bốn giờ đồng hồ. Nhìn tiến sĩ du học về nước nín nhịn "cống hiến" ở đây, tôi thấy ái ngại.
Tuy vậy, với nhiều ban bệnh được giải quyết, nhiều quy trình được đề xuất chỉnh sửa, cậu nhanh chóng khẳng định mình. Bạn tôi được đề nghị làm phó, rồi trưởng bộ phận sản xuất. Cậu nhanh chóng áp dụng nhiều biện pháp cải tiến năng suất. Một trong những cải cách là vận động công nhân giảm thời gian uống nước trà đầu giờ, rút ngắn thời gian giải lao giữa giờ. Bạn tôi tách riêng những người có năng suất cao vào một nhóm để giao việc cụ thể, thành lập các nhóm sản xuất với nhóm trưởng được giao đánh giá cụ thể từng vị trí, cũng là cơ chế mới để đánh giá và phân loại năng lực nhân viên.
Tôi bị ảnh hưởng lây. Đang ù lì, tôi trở nên hoạt bát và nhanh nhẹn hẳn, miệt mài hỗ trợ bạn mình. Nhờ những cải tiến của cậu ấy, năng suất và chất lượng của đơn vị tôi tăng vọt. Doanh số tăng gấp nhiều lần năm trước.
Tuy nhiên, cuối năm là thời điểm căng thẳng khi bình xét thi đua, đề xuất cá nhân xuất sắc được đi du lịch, nâng lương. Bạn tôi lựa chọn những người trẻ, có kiến thức, nhiệt huyết đề nghị bình chọn lao động xuất sắc. Một số lao động cao tuổi không còn đáp ứng chất lượng và tiến độ công việc được cậu đề xuất chuyển sang các công việc nhẹ hơn như bảo vệ, văn thư. Đây là lúc sóng gió nổi lên. Những người cao tuổi, năng suất thấp, có chất lượng sản phẩm tệ, thường đi muộn về sớm, nhưng lại là cây đa cây đề lên tiếng. Họ tới gặp người sếp cũ giờ đây đã là quản lý cấp trên, nêu ý kiến trong các buổi nhậu. Tôi, vì phụ trách nhân sự nên cũng nhận được nhiều thư phản đối nặc danh hoặc khuyết danh. Khi tôi tổng hợp các ý kiến đưa lên cấp trên, cũng chính là người quản lý cũ, ông phê bình bạn tôi làm mất đoàn kết nội bộ và chỉ đạo: "trước làm sao giờ cứ thế mà làm".
Ngay sau đó, các đề xuất cải tiến không được phê duyệt. Công việc đình trệ. Trong khi đó với năng lực tốt, bạn tôi lấy thêm được ngày càng nhiều hợp đồng, trúng thầu ngày nhiều dự án. Lượng việc tăng thêm nhưng năng suất quay lại như cũ. Giọt nước tràn ly là khi bạn tôi đề nghị tuyển dụng thêm công nhân sửa chữa ô tô nhưng lại bị yêu cầu tiếp nhận một kỹ sư điện tử - người mà anh phỏng vấn còn không biết đọc sơ đồ điện. Bạn tôi rơi vào bế tắc, xin nghỉ việc.
Chế độ "biên chế trọn đời" đã thành kinh điển nhiều năm qua. Hàng triệu người lao động ở Việt Nam hiểu rằng bên sử dụng lao động là nhà nước, sau khi ký hợp đồng sẽ bảo đảm trọn đời cho công việc ổn định của viên chức. Luật bất thành văn được hiểu rằng các đơn vị nhà nước không được sa thải người lao động nếu không chứng minh được khả năng không đáp ứng năng lực của người lao động - một việc theo quy định rất phức tạp. Chế độ này tạo ra các "lão làng" trong công sở, thường xuyên được thế hệ trẻ bầu là lao động tiến tiến, xuất sắc, hay nể quá thì "né ra cho lành".
Biên chế trọn đời giúp đảm bảo quyền lợi cán bộ nhà nước trong dài hạn. Viên chức yên tâm cống hiến, lao vào những vùng khó khăn mà không sợ bị mất việc. Tuy nhiên, một thực tế là rất nhiều người khi đã vào biên chế rồi thì chây ì, lười nhác, đi muộn về sớm, thích đấu đá quyền lợi hơn là học hỏi, cống hiến. Đây là một thất bại của thị trường lao động.
Biên chế suốt đời tạo ra nhiều chuyện dở khóc dở cười trong các cơ quan nhà nước. Tình trạng "nhàn cư vi bất thiện", đấu đá nội bộ, phe cánh, gạt người có năng lực và có tâm ra khỏi bộ máy làm giảm nguồn lực và năng suất của tổ chức. Điều này dẫn đến công việc bị tồn đọng, muốn giải quyết, người sử dụng lao động buộc phải tuyển dụng bổ sung dẫn đến bộ máy ngày càng phình to, tình trạng quan liêu trì trệ ngày càng nặng. Môi trường ấy không khuyến khích người có năng lực hay quy tụ được giới tinh hoa, như ta đều đã thấy.
Tin tốt là Việt Nam không còn chế độ viên chức suốt đời, theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức được Quốc hội thông qua tháng 11/2019, hiệu lực từ 1/7/2020. Thay đổi này được kỳ vọng khoác chiếc áo mới lên khu vực cán bộ viên chức, hạn chế tình trạng chây ì, lười nhác, vô trách nhiệm khi xử lý việc công với doanh nghiệp và nhân dân; đồng nghĩa với việc xóa bỏ tâm lý vào được nhà nước là "ấm chân đến khi cầm sổ hưu".
Bỏ biên chế trọn đời chưa đủ, ta còn phải trao cho những người quản lý viên chức quyền lực thực sự, cùng chế độ thu nhập và đãi ngộ minh bạch, công bằng, khuyến khích nhiệt huyết của những người muốn đóng góp cho khu vực công một cách đường đường chính chính. Tôi cho rằng, một cơ chế kiểm tra đánh giá năng lực viên chức công tâm và khoa học, hiệu quả, nếu được ban hành sẽ giúp sự thay đổi trên trong luật không trở thành hình thức.
Khi có "vũ khí" trong tay bằng chính các quy định thiết thực, người quản lý các viên chức mới dám dấn thân chọn lựa những người trẻ có tâm và tài như bạn tôi thay vì chịu thua các cây đa cây đề chỉ lo giật dây thủ trưởng.
Vũ Ngọc Bảo
Nguồn: VnExpress
Tuesday, June 30, 2020
Người Mỹ gốc Việt trước cơn lốc chống phân biệt chủng tộc (tham khảo)
Người Mỹ gốc Việt trước cơn lốc chống phân biệt chủng tộc
Trùng Dương
(19 tháng 6 2020)
Gửi đến BBC từ Sacramento, California
...
Sau khi kể một số những trường hợp kỳ thị mà chính mắt ông chứng kiến, tác giả thở dài:
"[K]hông biết bao nhiêu lần, khi trò chuyện với những người Việt trong cộng đồng, thậm chí với những người bạn, họ vẫn thường có những suy nghĩ rất lạ lùng. Thậm chí, họ còn huyên thuyên giảng dạy cho con cái họ là đừng chơi với 'bọn da đen' ở trường vì 'chúng nó ngu, dốt và lười lắm'. Còn 'bọn Rệp' thì thôi khỏi nói, toàn là bọn khủng bố cực đoan và cũng lại... ngu dốt nên cũng cần phải tránh xa, không giao du với chúng!" *
Tác giả bài "Mọi" trích một câu văn (nói là của Phan Chu Trinh, và tôi ghi lại đây vì không có phương tiện để kiểm chứng): "Dân tộc nước Nam, trên lịch sử, có hai đặc tính cực đoan phản đối nhau: một là đặc tính bài ngoại và ỷ ngoại; hai là đặc tính tự tôn và tự ti. Hai đặc tính đó sẵn ở quốc dân, trong não mọi người. Mỗi cái nhân thời thế, địa vị của nó mà phát hiện, rồi trong khi phát hiện lại đều đi tới cực đoan, lại khi đã tới cực đoan, mỗi cái đều giữ lý do, chuyên cậy vào tập quán, lợi hại đều bị che lấp không thấy."
_______________________________________________________
Nhà báo Trùng Dương là cựu Chủ nhiệm Nhật báo Sóng Thần (1971-1975), hiện đang sống tại Sacramento, Hoa Kỳ.
* Chú thích của SĐ-NTC: Nói xa, nói gần chẳng qua nói thật: "Sống ở những khu dân nghèo (ở Việt Nam) nhiều người đã thấm thiá những nỗi khổ/bực mình hàng ngày. Có sống ở khu vực dân nghèo (đặc biệt những khu nhiều người da đen hoặc 'rệp' ở )mới thấm đậm những nỗi khổ này!"
Trùng Dương
(19 tháng 6 2020)
Gửi đến BBC từ Sacramento, California
...
Sau khi kể một số những trường hợp kỳ thị mà chính mắt ông chứng kiến, tác giả thở dài:
"[K]hông biết bao nhiêu lần, khi trò chuyện với những người Việt trong cộng đồng, thậm chí với những người bạn, họ vẫn thường có những suy nghĩ rất lạ lùng. Thậm chí, họ còn huyên thuyên giảng dạy cho con cái họ là đừng chơi với 'bọn da đen' ở trường vì 'chúng nó ngu, dốt và lười lắm'. Còn 'bọn Rệp' thì thôi khỏi nói, toàn là bọn khủng bố cực đoan và cũng lại... ngu dốt nên cũng cần phải tránh xa, không giao du với chúng!" *
Tác giả bài "Mọi" trích một câu văn (nói là của Phan Chu Trinh, và tôi ghi lại đây vì không có phương tiện để kiểm chứng): "Dân tộc nước Nam, trên lịch sử, có hai đặc tính cực đoan phản đối nhau: một là đặc tính bài ngoại và ỷ ngoại; hai là đặc tính tự tôn và tự ti. Hai đặc tính đó sẵn ở quốc dân, trong não mọi người. Mỗi cái nhân thời thế, địa vị của nó mà phát hiện, rồi trong khi phát hiện lại đều đi tới cực đoan, lại khi đã tới cực đoan, mỗi cái đều giữ lý do, chuyên cậy vào tập quán, lợi hại đều bị che lấp không thấy."
_______________________________________________________
Nhà báo Trùng Dương là cựu Chủ nhiệm Nhật báo Sóng Thần (1971-1975), hiện đang sống tại Sacramento, Hoa Kỳ.
* Chú thích của SĐ-NTC: Nói xa, nói gần chẳng qua nói thật: "Sống ở những khu dân nghèo (ở Việt Nam) nhiều người đã thấm thiá những nỗi khổ/bực mình hàng ngày. Có sống ở khu vực dân nghèo (đặc biệt những khu nhiều người da đen hoặc 'rệp' ở )mới thấm đậm những nỗi khổ này!"
4 thế hệ trong gia đình Tổng thống Donald Trump (tham khảo)
Bài viết của Thu Hằng trên Zingnews
Quý bạn nhấn vào hàng tiêu đề để đọc toàn văn.
4 thế hệ trong gia đình Tổng thống Donald Trump
Thu Hằng
30/06/2020
Thu Hằng
c
Quý bạn nhấn vào hàng tiêu đề để đọc toàn văn.
4 thế hệ trong gia đình Tổng thống Donald Trump
Thu Hằng
30/06/2020
Thu Hằng
Tổ tiên của Tổng thống Mỹ từ Đức đến New York trên tàu hơi nước vào năm 1885 và từng bước xây dựng lên một đế chế 4 thế hệ quyền lực
c
Monday, June 29, 2020
Giấc mơ Mỹ (tham khảo)
Giấc mơ Mỹ
Nguồn: Báo Tiếng Dân28-6-2020
Dương Ngọc Thái
Tác giả, kỹ sư Dương Ngọc Thái, chuyên gia an ninh mạng, làm việc cho Google ở thung lũng Silicon, California. Nguồn: Người Đô Thị
Trump mới ký lệnh ngừng cấp H1B, loại visa đã giúp tôi đến Mỹ.
Tháng 10 năm 2010, tôi nghỉ việc ở một ngân hàng tại TP HCM rồi không tìm được việc khác. Tôi không còn nhớ ý tưởng đến từ đâu, nhưng sau khi thất nghiệp hơn một tháng, ra nước ngoài làm việc trở thành chuyện phải thử cho biết. Tôi bắt đầu phỏng vấn ở một ngân hàng của Anh. Cuộc phỏng vấn theo tôi diễn ra khá suôn sẻ, nhưng sau đó không thấy họ nói năng gì về ký hợp đồng và làm giấy tờ. Tôi email nhắc vài lần, họ đều nói “đang xử lý hồ sơ”. Đến lúc họ chủ động liên hệ lại thì tôi đã đến Mỹ.
Người Mỹ làm rất nhanh.
Tôi email một đồng nghiệp ở Mỹ khi thấy anh đăng trên Twitter cần tuyển người, không ngờ năm phút sau anh đã hỏi “khi nào phỏng vấn được?”. Nhưng phỏng vấn xong, tôi nghĩ “chắc rớt rồi”. Vì gặp phải chuyên gia thứ thiệt nên tôi lộ ra nguyên hình là một chuyên gia miệt vườn.
Cho đến giờ tôi vẫn không hiểu tại sao họ chọn tôi. Lúc nhận được thư mời nhận việc, thấy mức lương tôi run quá, đồng ý ngay tức khắc vì sợ họ đổi ý. Sau này tôi mới biết mức lương đó cao hơn mặt bằng chung của nước Mỹ, nhưng ở nơi tôi sống thì cũng chỉ trung bình thôi, trừ thuế má, nhà cửa, sinh hoạt thì chỉ dư dả chút đỉnh. Tính ra lương khởi điểm như vậy là khá công bằng.
Bước tiếp theo là làm giấy tờ. Tôi cần một visa cho phép tôi làm việc. Sếp nói công ty không có kinh nghiệm trong việc này, vì tôi là nhân viên nước ngoài đầu tiên của họ, nhưng an tâm, họ sẽ thuê luật sư. Luật sư nói trường hợp của tôi cần làm visa H1B và liệt kê một loạt giấy tờ tôi cần phải chuẩn bị, trong đó có ba chữ đã ám ảnh tôi cả thanh xuân: bằng đại học.
Đòi gì cũng được, nhưng đòi bằng đại học thì tôi thua. Tôi đắn đo mãi không biết nên trả lời thế nào, vì sợ nếu nói không có bằng công ty sẽ thôi không tuyển nữa. Thú thật trong đầu tôi cũng đã có lúc nghĩ đến những ý tưởng đen tối. Cuối cùng tôi quyết định nói thật. May quá, luật sư nói hồ sơ của tôi vẫn làm được H1B vì có thể chứng minh năng lực tương đương đại học.
Lúc đến trường lấy bảng điểm để chứng minh là có học đại học, nhân viên phòng đào tạo nhìn bảng điểm, nhìn tôi, xong nhìn lại bảng điểm lần nữa, rồi hỏi với ánh mắt dò xét: điểm vầy lấy về làm gì? Từ bảng điểm “lấy về làm gì” và một số thứ khác, công ty thuê giáo sư viết một bảng đánh giá dài mấy chục trang về cá nhân tôi. Tôi vẫn còn giữ bảng đánh giá này, khi nào cảm thấy chán nản lại mở ra xem để thấy trên giấy tờ mình cũng giỏi chứ bộ.
Công ty nộp H1B cho tôi vào cuối tháng 12. Đúng quy trình thì phải đợi đến tháng 10 năm sau mới có kết quả. Mỗi năm nước Mỹ chỉ cấp 65 nghìn visa H1B trong khi số người nộp hồ sơ lên đến vài trăm nghìn. Thế là phải quay xổ số. Muốn đến Mỹ ngoài đẹp trai, con nhà giàu, hát hay và học ngu như tôi thì còn phải trúng số nữa. Vậy mà vài ngày sau, sếp email lại nói hồ sơ của tôi đã được chấp thuận. Hóa ra tôi cực may. Năm 2010 nước Mỹ đang ở giữa một cuộc đại khủng hoảng, các công ty chẳng thuê mướn gì nữa, nên đến cuối năm “quota” H1B vẫn còn.
Tôi không phải là người Việt Nam đầu tiên đến Mỹ làm việc bằng visa H1B, nhưng có lẽ là một trong những trường hợp hiếm hoi không có bằng cấp. Người Mỹ đã xoay sở để đưa tôi đến xứ sở cờ hoa và đất nước này cũng đã rộng vòng tay chào đón. Tôi tính làm chừng một năm cho biết rồi về, nhưng rốt cuộc “thương vụ” này đã kéo dài gần 10 năm và cho đến nay tôi tin rằng cả hai bên đều có lợi.
Cuộc sống của tôi đã thay đổi hoàn toàn và nước Mỹ có thêm một người đóng thuế. Tôi có cơ hội phát huy tối đa khả năng và mỗi phút đồng hồ nước Mỹ bỏ ra để xét duyệt hồ sơ của tôi đã sinh lợi hàng trăm hàng ngàn lần. Nước Mỹ mà tôi biết là một nước Mỹ biết chọn những khoản đầu tư khôn ngoan như vậy.
***
Trump là hiện thân của một nước Mỹ rất khác. Nước Mỹ của Trump tìm mọi cách ngăn cản người nhập cư, viện vào đủ thứ lý do. Lý do mới nhất là người nhập cư sẽ giành việc của người Mỹ, nhưng kỳ thực rất nhiều công việc sẽ không tồn tại nếu không có người nhập cư. Đồng sáng lập Google Sergey Brin là dân tị nạn đến từ Liên Xô cũ. Elon Musk đến từ Nam Phi. Bố của Steve Jobs và Jeff Bezos đều là dân tị nạn. Thử tưởng tượng, nước Mỹ và thế giới sẽ như thế nào nếu không có Google, Amazon, Apple hay Tesla?
Không chỉ công nghệ, thống kê của viện nghiên cứu New American Economy cho thấy phân nửa tập đoàn trong danh sách Forbes 500 được tạo ra bởi dân nhập cư thế hệ đầu tiên hoặc thế hệ thứ hai. Trump luôn tuyên bố sẽ đem lại những thương vụ có lợi cho nước Mỹ. Nhưng thật khó để thấy nước Mỹ có lợi gì, nếu không muốn nói là sẽ suy yếu, khi cấm những người nhập cư đã viết nên lịch sử và thành công của đất nước này.
Tôi có giành việc của người Mỹ nào không? Không có công ty nào muốn bỏ bao nhiêu thời gian và tiền bạc để thỉnh một ông thần ve chai từ Việt Nam sang, nếu đã tìm được người ở Mỹ. Tôi đã ở cả hai phía của bàn phỏng vấn và tôi hiểu rằng yếu tố quan trọng nhất vẫn là năng lực của ứng viên.
Giả sử bây giờ tôi nghỉ việc, công ty có tìm được người Mỹ nào đủ năng lực thay thế không? Đương nhiên là có, nhưng tôi tin chắc người Mỹ nào làm được việc của tôi đều đang có một công việc rất tốt rồi, chẳng cần phải đợi Trump giúp tìm việc khác. Tôi chưa mở công ty riêng, nên không thể nói rằng tôi trực tiếp tạo ra việc làm, nhưng tôi cũng đã tự tay gầy dựng nên nhóm của tôi ở Google và riêng trong năm vừa rồi đã tạo ra việc làm cho 5 người mới, chưa kể tuyển dụng nội bộ và thực tập sinh.
Tôi đến Mỹ vì muốn được đi cùng thế giới, nhưng ở lại đây vì sự tự do. Người Mỹ tôn sùng tự do ngôn luận và tự do cá nhân. Tu chính án thứ nhất của Hiến pháp Mỹ ghi rõ những quyền này của người ở Mỹ, bao gồm công dân và kể cả những người chưa phải là công dân. Những quyền tự do này không phải tuyệt đối, song rất ít hạn chế. Trẻ em ở đây từ nhỏ đã biết nói: “Đây là một đất nước tự do”. Nhưng làm sao có được tự do nếu không chấp nhận sự khác biệt? Làm sao có khác biệt nếu xua đuổi và ngăn cấm những ai không giống mình?
Chính sách của Trump không ảnh hưởng đến tôi, nhưng ảnh hưởng đến nhiều người Việt. Rất nhiều bạn bè, đồng nghiệp người Việt của tôi đã và đang giữ visa H1B hoặc đang chờ nộp vào năm sau. H1B là ước mơ của nhiều du học sinh Việt muốn ở lại Mỹ. Tôi biết nhiều gia đình đầu tư cho con sang Mỹ học, cốt chỉ mong tìm được việc làm có tài trợ H1B. Phương án này an toàn và ít tốn kém hơn so với những con đường khác, vì từ H1B chuyển sang thẻ xanh thủ tục rất đơn giản, đối với người Việt chỉ cần chờ 1-2 năm.
Mỗi năm trước đây có hàng chục sinh viên từ các đại học ở Việt Nam sang thực tập trong các công ty ở Thung lũng Silicon. Vừa làm vừa học trong ba tháng rồi về nước, họ lãnh được số tiền còn cao hơn lương cả năm của chuyên gia trong nước. Nhờ mối quan hệ xây dựng được trong quá trình thực tập, nhiều bạn sinh viên ngay khi ra trường đã có sẵn việc làm rất tốt ở nước ngoài. Giờ đây Trump cũng đã cấm luôn visa thực tập sinh.
Ở một góc độ khác, chính sách đóng cửa của Trump tạo ra cơ hội cho Việt Nam trở thành điểm đến cho giới lao động từ xa. Hơn ba tháng nay tôi làm việc ở nhà và có lẽ sẽ còn ở nhà cho đến khi nào có vaccine chống Covid-19. Trước mắt, không chỉ riêng tôi mà nhiều bạn bè, đồng nghiệp đã nghĩ đến chuyện nếu không đến văn phòng nữa thì sao không làm việc từ Hawaii, Bali hay Nha Trang, Đà Nẵng.
Về lâu dài, Covid-19 cùng với chính sách cấm đoán của Trump sẽ khiến các công ty cho phép nhân viên làm việc từ bất kỳ đâu. Việt Nam sẽ lợi đủ đường nếu thu hút được nhân viên của các tập đoàn đa quốc gia vì vừa thu được thuế thu nhập vừa có nguồn chất xám đã được đào tạo bài bản. Muốn như vậy, Việt Nam phải nhanh chóng ký các hiệp định song phương về thuế thu nhập cá nhân với Mỹ và các nước.
Chính phủ Việt Nam nói rằng nhờ chống dịch tốt, cuộc sống ở Việt Nam đang là mơ ước của nhiều người. Dịch bệnh rồi cũng sẽ qua, yếu tố quyết định một người ở đâu vẫn là công ăn việc làm. Giới công nghệ mơ về Thung lũng Silicon cũng vì ở đây có công việc tốt. Càng nhiều người giỏi đến sống, lại càng có nhiều việc tốt được tạo ra. Đây là cái vòng lũy tiến tạo nên thành công của nước Mỹ. Trung Quốc không có cách gì vượt qua Mỹ nếu người Trung Quốc vẫn muốn trở thành người Mỹ, nhưng vì muốn dằn mặt các công ty công nghệ và mua chuộc cử tri bài ngoại, Trump đã phá vỡ lợi thế này của nước Mỹ.
“Giấc mơ Mỹ”, hay “giấc mơ Việt Nam” thịnh vượng, thực ra không hoàn toàn tách biệt. Có người nói chính sách bài nhập cư của Trump là tốt, Việt Nam sẽ đỡ chảy máu chất xám. Tôi nghĩ tài năng nào cũng cần môi trường mới có thể phát triển. Nước Mỹ với những trường đại học, những công ty hàng đầu thế giới, lại có sẵn hai triệu Việt kiều*, là một nơi rất tốt để nuôi dưỡng tài năng Việt. Họ có quay lại Việt Nam hay không thật ra không quá quan trọng, miễn sao họ vẫn quan tâm đến Việt Nam. Một đất nước có nhiều công dân tài năng và giàu có, dẫu họ ở đâu đi chăng nữa, đất nước đó không thể nghèo nàn, lạc hậu.
(Một phiên bản bài này đã đăng ở VnExpress)
Bình Luận từ Facebook
__________________________________________________________
* Lưu ý: Chỉ có vài phần trăm là Việt kiều; còn lại là công dân Mỹ gốc Việt
Nguồn: Báo Tiếng Dân28-6-2020
Dương Ngọc Thái
Tác giả, kỹ sư Dương Ngọc Thái, chuyên gia an ninh mạng, làm việc cho Google ở thung lũng Silicon, California. Nguồn: Người Đô Thị
Trump mới ký lệnh ngừng cấp H1B, loại visa đã giúp tôi đến Mỹ.
Tháng 10 năm 2010, tôi nghỉ việc ở một ngân hàng tại TP HCM rồi không tìm được việc khác. Tôi không còn nhớ ý tưởng đến từ đâu, nhưng sau khi thất nghiệp hơn một tháng, ra nước ngoài làm việc trở thành chuyện phải thử cho biết. Tôi bắt đầu phỏng vấn ở một ngân hàng của Anh. Cuộc phỏng vấn theo tôi diễn ra khá suôn sẻ, nhưng sau đó không thấy họ nói năng gì về ký hợp đồng và làm giấy tờ. Tôi email nhắc vài lần, họ đều nói “đang xử lý hồ sơ”. Đến lúc họ chủ động liên hệ lại thì tôi đã đến Mỹ.
Người Mỹ làm rất nhanh.
Tôi email một đồng nghiệp ở Mỹ khi thấy anh đăng trên Twitter cần tuyển người, không ngờ năm phút sau anh đã hỏi “khi nào phỏng vấn được?”. Nhưng phỏng vấn xong, tôi nghĩ “chắc rớt rồi”. Vì gặp phải chuyên gia thứ thiệt nên tôi lộ ra nguyên hình là một chuyên gia miệt vườn.
Cho đến giờ tôi vẫn không hiểu tại sao họ chọn tôi. Lúc nhận được thư mời nhận việc, thấy mức lương tôi run quá, đồng ý ngay tức khắc vì sợ họ đổi ý. Sau này tôi mới biết mức lương đó cao hơn mặt bằng chung của nước Mỹ, nhưng ở nơi tôi sống thì cũng chỉ trung bình thôi, trừ thuế má, nhà cửa, sinh hoạt thì chỉ dư dả chút đỉnh. Tính ra lương khởi điểm như vậy là khá công bằng.
Bước tiếp theo là làm giấy tờ. Tôi cần một visa cho phép tôi làm việc. Sếp nói công ty không có kinh nghiệm trong việc này, vì tôi là nhân viên nước ngoài đầu tiên của họ, nhưng an tâm, họ sẽ thuê luật sư. Luật sư nói trường hợp của tôi cần làm visa H1B và liệt kê một loạt giấy tờ tôi cần phải chuẩn bị, trong đó có ba chữ đã ám ảnh tôi cả thanh xuân: bằng đại học.
Đòi gì cũng được, nhưng đòi bằng đại học thì tôi thua. Tôi đắn đo mãi không biết nên trả lời thế nào, vì sợ nếu nói không có bằng công ty sẽ thôi không tuyển nữa. Thú thật trong đầu tôi cũng đã có lúc nghĩ đến những ý tưởng đen tối. Cuối cùng tôi quyết định nói thật. May quá, luật sư nói hồ sơ của tôi vẫn làm được H1B vì có thể chứng minh năng lực tương đương đại học.
Lúc đến trường lấy bảng điểm để chứng minh là có học đại học, nhân viên phòng đào tạo nhìn bảng điểm, nhìn tôi, xong nhìn lại bảng điểm lần nữa, rồi hỏi với ánh mắt dò xét: điểm vầy lấy về làm gì? Từ bảng điểm “lấy về làm gì” và một số thứ khác, công ty thuê giáo sư viết một bảng đánh giá dài mấy chục trang về cá nhân tôi. Tôi vẫn còn giữ bảng đánh giá này, khi nào cảm thấy chán nản lại mở ra xem để thấy trên giấy tờ mình cũng giỏi chứ bộ.
Công ty nộp H1B cho tôi vào cuối tháng 12. Đúng quy trình thì phải đợi đến tháng 10 năm sau mới có kết quả. Mỗi năm nước Mỹ chỉ cấp 65 nghìn visa H1B trong khi số người nộp hồ sơ lên đến vài trăm nghìn. Thế là phải quay xổ số. Muốn đến Mỹ ngoài đẹp trai, con nhà giàu, hát hay và học ngu như tôi thì còn phải trúng số nữa. Vậy mà vài ngày sau, sếp email lại nói hồ sơ của tôi đã được chấp thuận. Hóa ra tôi cực may. Năm 2010 nước Mỹ đang ở giữa một cuộc đại khủng hoảng, các công ty chẳng thuê mướn gì nữa, nên đến cuối năm “quota” H1B vẫn còn.
Tôi không phải là người Việt Nam đầu tiên đến Mỹ làm việc bằng visa H1B, nhưng có lẽ là một trong những trường hợp hiếm hoi không có bằng cấp. Người Mỹ đã xoay sở để đưa tôi đến xứ sở cờ hoa và đất nước này cũng đã rộng vòng tay chào đón. Tôi tính làm chừng một năm cho biết rồi về, nhưng rốt cuộc “thương vụ” này đã kéo dài gần 10 năm và cho đến nay tôi tin rằng cả hai bên đều có lợi.
Cuộc sống của tôi đã thay đổi hoàn toàn và nước Mỹ có thêm một người đóng thuế. Tôi có cơ hội phát huy tối đa khả năng và mỗi phút đồng hồ nước Mỹ bỏ ra để xét duyệt hồ sơ của tôi đã sinh lợi hàng trăm hàng ngàn lần. Nước Mỹ mà tôi biết là một nước Mỹ biết chọn những khoản đầu tư khôn ngoan như vậy.
***
Trump là hiện thân của một nước Mỹ rất khác. Nước Mỹ của Trump tìm mọi cách ngăn cản người nhập cư, viện vào đủ thứ lý do. Lý do mới nhất là người nhập cư sẽ giành việc của người Mỹ, nhưng kỳ thực rất nhiều công việc sẽ không tồn tại nếu không có người nhập cư. Đồng sáng lập Google Sergey Brin là dân tị nạn đến từ Liên Xô cũ. Elon Musk đến từ Nam Phi. Bố của Steve Jobs và Jeff Bezos đều là dân tị nạn. Thử tưởng tượng, nước Mỹ và thế giới sẽ như thế nào nếu không có Google, Amazon, Apple hay Tesla?
Không chỉ công nghệ, thống kê của viện nghiên cứu New American Economy cho thấy phân nửa tập đoàn trong danh sách Forbes 500 được tạo ra bởi dân nhập cư thế hệ đầu tiên hoặc thế hệ thứ hai. Trump luôn tuyên bố sẽ đem lại những thương vụ có lợi cho nước Mỹ. Nhưng thật khó để thấy nước Mỹ có lợi gì, nếu không muốn nói là sẽ suy yếu, khi cấm những người nhập cư đã viết nên lịch sử và thành công của đất nước này.
Tôi có giành việc của người Mỹ nào không? Không có công ty nào muốn bỏ bao nhiêu thời gian và tiền bạc để thỉnh một ông thần ve chai từ Việt Nam sang, nếu đã tìm được người ở Mỹ. Tôi đã ở cả hai phía của bàn phỏng vấn và tôi hiểu rằng yếu tố quan trọng nhất vẫn là năng lực của ứng viên.
Giả sử bây giờ tôi nghỉ việc, công ty có tìm được người Mỹ nào đủ năng lực thay thế không? Đương nhiên là có, nhưng tôi tin chắc người Mỹ nào làm được việc của tôi đều đang có một công việc rất tốt rồi, chẳng cần phải đợi Trump giúp tìm việc khác. Tôi chưa mở công ty riêng, nên không thể nói rằng tôi trực tiếp tạo ra việc làm, nhưng tôi cũng đã tự tay gầy dựng nên nhóm của tôi ở Google và riêng trong năm vừa rồi đã tạo ra việc làm cho 5 người mới, chưa kể tuyển dụng nội bộ và thực tập sinh.
Tôi đến Mỹ vì muốn được đi cùng thế giới, nhưng ở lại đây vì sự tự do. Người Mỹ tôn sùng tự do ngôn luận và tự do cá nhân. Tu chính án thứ nhất của Hiến pháp Mỹ ghi rõ những quyền này của người ở Mỹ, bao gồm công dân và kể cả những người chưa phải là công dân. Những quyền tự do này không phải tuyệt đối, song rất ít hạn chế. Trẻ em ở đây từ nhỏ đã biết nói: “Đây là một đất nước tự do”. Nhưng làm sao có được tự do nếu không chấp nhận sự khác biệt? Làm sao có khác biệt nếu xua đuổi và ngăn cấm những ai không giống mình?
Chính sách của Trump không ảnh hưởng đến tôi, nhưng ảnh hưởng đến nhiều người Việt. Rất nhiều bạn bè, đồng nghiệp người Việt của tôi đã và đang giữ visa H1B hoặc đang chờ nộp vào năm sau. H1B là ước mơ của nhiều du học sinh Việt muốn ở lại Mỹ. Tôi biết nhiều gia đình đầu tư cho con sang Mỹ học, cốt chỉ mong tìm được việc làm có tài trợ H1B. Phương án này an toàn và ít tốn kém hơn so với những con đường khác, vì từ H1B chuyển sang thẻ xanh thủ tục rất đơn giản, đối với người Việt chỉ cần chờ 1-2 năm.
Mỗi năm trước đây có hàng chục sinh viên từ các đại học ở Việt Nam sang thực tập trong các công ty ở Thung lũng Silicon. Vừa làm vừa học trong ba tháng rồi về nước, họ lãnh được số tiền còn cao hơn lương cả năm của chuyên gia trong nước. Nhờ mối quan hệ xây dựng được trong quá trình thực tập, nhiều bạn sinh viên ngay khi ra trường đã có sẵn việc làm rất tốt ở nước ngoài. Giờ đây Trump cũng đã cấm luôn visa thực tập sinh.
Ở một góc độ khác, chính sách đóng cửa của Trump tạo ra cơ hội cho Việt Nam trở thành điểm đến cho giới lao động từ xa. Hơn ba tháng nay tôi làm việc ở nhà và có lẽ sẽ còn ở nhà cho đến khi nào có vaccine chống Covid-19. Trước mắt, không chỉ riêng tôi mà nhiều bạn bè, đồng nghiệp đã nghĩ đến chuyện nếu không đến văn phòng nữa thì sao không làm việc từ Hawaii, Bali hay Nha Trang, Đà Nẵng.
Về lâu dài, Covid-19 cùng với chính sách cấm đoán của Trump sẽ khiến các công ty cho phép nhân viên làm việc từ bất kỳ đâu. Việt Nam sẽ lợi đủ đường nếu thu hút được nhân viên của các tập đoàn đa quốc gia vì vừa thu được thuế thu nhập vừa có nguồn chất xám đã được đào tạo bài bản. Muốn như vậy, Việt Nam phải nhanh chóng ký các hiệp định song phương về thuế thu nhập cá nhân với Mỹ và các nước.
Chính phủ Việt Nam nói rằng nhờ chống dịch tốt, cuộc sống ở Việt Nam đang là mơ ước của nhiều người. Dịch bệnh rồi cũng sẽ qua, yếu tố quyết định một người ở đâu vẫn là công ăn việc làm. Giới công nghệ mơ về Thung lũng Silicon cũng vì ở đây có công việc tốt. Càng nhiều người giỏi đến sống, lại càng có nhiều việc tốt được tạo ra. Đây là cái vòng lũy tiến tạo nên thành công của nước Mỹ. Trung Quốc không có cách gì vượt qua Mỹ nếu người Trung Quốc vẫn muốn trở thành người Mỹ, nhưng vì muốn dằn mặt các công ty công nghệ và mua chuộc cử tri bài ngoại, Trump đã phá vỡ lợi thế này của nước Mỹ.
“Giấc mơ Mỹ”, hay “giấc mơ Việt Nam” thịnh vượng, thực ra không hoàn toàn tách biệt. Có người nói chính sách bài nhập cư của Trump là tốt, Việt Nam sẽ đỡ chảy máu chất xám. Tôi nghĩ tài năng nào cũng cần môi trường mới có thể phát triển. Nước Mỹ với những trường đại học, những công ty hàng đầu thế giới, lại có sẵn hai triệu Việt kiều*, là một nơi rất tốt để nuôi dưỡng tài năng Việt. Họ có quay lại Việt Nam hay không thật ra không quá quan trọng, miễn sao họ vẫn quan tâm đến Việt Nam. Một đất nước có nhiều công dân tài năng và giàu có, dẫu họ ở đâu đi chăng nữa, đất nước đó không thể nghèo nàn, lạc hậu.
(Một phiên bản bài này đã đăng ở VnExpress)
Bình Luận từ Facebook
__________________________________________________________
* Lưu ý: Chỉ có vài phần trăm là Việt kiều; còn lại là công dân Mỹ gốc Việt
Subscribe to:
Posts (Atom)
